Khảo sát chất lượng

Bạn thấy chất lượng dịch vụ của Greco thế nào :

  Tốt :-)

  Trung bình :-)

  Kém :-)

Văn bản

Trên cơ sở đánh giá tổng kết thi hành Luật Xây dựng hiện hành và những yêu cầu thực tiễn đặt ra trong quản lý hoạt động xây dựng; khắc phục được những hạn chế, tồn tại của Luật hiện hành, từ đó sửa đổi, bổ sung cho phù hợp và đáp ứng yêu cầu phát triển, ngày 18/6/2014 tại kỳ họp thứ 7 Quốc hội khóa VIII đã thông qua Luật xây dựng. Luật Xây dựng gồm 10 chương, 168 điều có hiệu lực thi hành từ 01/01/2015. Luật Xây dựng 2014 là công cụ quan trọng kiểm soát đầu tư của mọi nguồn vốn, đảm bảo an toàn cộng đồng, chống thất thoát, được thảo luận nhiều lần và có sự thống nhất cao.

Luật Xây dựng gồm những nội dung chủ yếu sau:

  1. Phạm vi của Luật – Điều chỉnh các hoạt động đầu tư xây dựng (Chương 1)

Hoạt động đầu tư nói chung có thể có xây dựng hoặc không có xây dựng (như đầu tư mua sắm tài sản cố định, đầu tư tài chính, dự án đầu tư trồng rừng, một số dự án đầu tư phát triển trong lĩnh vực y tế, giáo dục, văn hóa, thể thao...), nhưng quá trình xây dựng công trình luôn gắn với hoạt động đầu tư. Trên thực tế, các nhiệm vụ quản lý nhà nước trong lĩnh vực xây dựng, theo quy định của Luật Xây dựng (2003) và các Nghị định hướng dẫn thực hiện đều gắn với quá trình đầu tư xây dựng, gồm: quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình; quản lý thiết kế xây dựng, thi công xây dựng; quản lý cấp giấy phép xây dựng; quản lý kinh tế xây dựng; quản lý chất lượng công trình xây dựng; quản lý năng lực hoạt động xây dựng. Mặt khác, cụm từ “đầu tư xây dựng” cũng đã được sử dụng phổ biến trong Luật Xây dựng (2003) và các Nghị định hướng dẫn thi hành như: đầu tư xây dựng công trình, dự án đầu tư xây dựng công trình, quản lý chi phí đầu tư xây dựng công trình, chủ đầu tư xây dựng công trình, tư vấn đầu tư xây dựng… Chính vì vậy, việc sử dụng cụm từ “hoạt động đầu tư xây dựng” trong Luật Xây dựng (sửa đổi) thay cho cụm từ “hoạt động xây dựng” trong Luật Xây dựng (2003) là phù hợp và làm rõ hơn những nội dung quản lý được điều chỉnh trong Luật Xây dựng.

Như vậy, phạm vi của Luật Xây dựng (sửa đổi) điều chỉnh các hoạt động đầu tư xây dựng từ khâu quy hoạch xây dựng, lập báo cáo nghiên cứu tiền khả thi, báo cáo nghiên cứu khả thi, lập, thẩm định, phê duyệt dự án đầu tư xây dựng cho đến khảo sát, thiết kế, thi công xây dựng, nghiệm thu, bàn giao, bảo hành, bảo trì công trình xây dựng, áp dụng đối với các dự án đầu tư xây dựng thuộc mọi nguồn vốn (tức là điều chỉnh quá trình bỏ vốn đầu tư để tạo lập ra sản phẩm cuối cùng là các công trình xây dựng). Để làm rõ thêm về khái niệm “hoạt động đầu tư xây dựng” tại Điều 3 của Luật đã giải thích Hoạt động đầu tư xây dựng là quá trình bỏ vốn để thực hiện đầu tư xây dựng công trình và tiến hành các hoạt động xây dựng từ lập quy hoạch xây dựng, lập dự án đầu tư xây dựng, khảo sát, thiết kế xây dựng, thi công xây dựng, giám sát, quản lý dự án nghiệm thu bàn giao đưa công trình vào khai thác sử dụng và bảo hành, bảo trì công trình xây dựng.

  1. Quy hoạch xây dựng – cơ sở để quản lý các hoạt động đầu tư xây dựng (Chương II)

Đây là vấn đề mà trong quá trình thảo luận một số đại biểu Quốc hội cho rằng nên tách riêng và nhập với Luật Quy hoạch đô thị để xây dưng một Luật Quy hoạch xây dựng. Tuy nhiên, quy hoạch xây dựng là loại quy hoạch có tính chất đặc thù và là cơ sở để quản lý hoạt động đầu tư xây dựng và quản lý trật tự xây dựng; do đó, trong khi chưa xây dựng được Luật Quy hoạch xây dựng riêng thì cần thiết phải có một Chương về quy hoạch xây dựng tại Luật này.

 Chương Quy hoạch đề cập đến các loại quy hoạch, gồm Quy hoạch vùng;  Quy hoạch đô thị; Quy hoạch khu chức năng đặc thù; Quy hoạch nông thôn. Quy hoạch đô thị được thực hiện theo Luật Quy hoạch đô thị

Quy hoạch xây dựng vùng chính là căn cứ và là cơ sở để lập các quy hoạch đô thị, quy hoạch chuyên ngành hạ tầng kỹ thuật, quy hoạch xây dựng nông thôn, lập và quản lý thực hiện các dự án đầu tư xây dựng, nhất là các dự án đầu tư phát triển hệ thống hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội cấp vùng, tạo sự liên kết, tránh đầu tư dàn trải, trùng lắp, đảm bảo khai thác hợp lý và hiệu quả tài nguyên, thiên nhiên và các nguồn lực xã hội. Quản lý quy hoạch xây dựng, trong đó có quy hoạch xây dựng vùng là nhiệm vụ quan trọng của các cơ quan quản lý nhà nước về xây dựng.

Luật quy định về quy hoạch vùng dọc tuyến cao tốc, hành lang kinh tế liên tỉnh để làm công cụ quản lý và khai thác hiệu quả đất đai, không gian, kiến trúc, cảnh quan, môi trường dọc các tuyến đường, hành lang kinh tế,

Để nâng cao chất lượng quy hoạch xây dựng, tránh chồng chéo, trùng lắp nhiệm vụ và nội dung với quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội, quy hoạch sử dụng đất và các quy hoạch ngành khác, Luật đã quy định rõ khái nhiệm quy hoạch xây dựng là việc tổ chức không gian đô thị, nông thôn và khu chức năng đặc thù; tổ chức hệ thống công trình hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội… và được thể hiện thông qua đồ án quy hoạch bao gồm sơ đồ, bản vẽ, mô hình và thuyết minh (Khoản 36 Điều 3); đồng thời quy định rõ căn cứ, yêu cầu cũng như nội dung cơ bản đối với từng loại đồ án quy hoạch theo cấp độ từ quy hoạch vùng đến quy hoạch chung, quy hoạch phân khu và quy hoạch chi tiết.

Về điều kiện điều chỉnh quy hoạch: Tại Mục 6 Chương II đã quy định cụ thể về điều chỉnh quy hoạch xây dựng, bao gồm: việc rà soát quy hoạch xây dựng, điều kiện điều chỉnh, nguyên tắc điều chỉnh, các loại điều chỉnh (tổng thể, cục bộ) và trình tự điều chỉnh đối với quy hoạch xây dựng. Để tránh tình trạng điều chỉnh quy hoạch xây dựng tùy tiện, Luật đã được bổ sung nội dung quy định cơ quan tổ chức lập điều chỉnh cục bộ quy hoạch xây dựng có trách nhiệm tổ chức lấy ý kiến cộng đồng dân cư trong khu vực điều chỉnh quy hoạch và các khu vực xung quanh có ảnh hưởng trực tiếp (Khoản 1 Điều 41).

Luật quy định trách nhiệm của cơ quan lập quy hoạch xây dựng, chủ đầu tư dự án có trách nhiệm lấy ý kiến của các cơ quan, tổ chức, cá nhân và cộng đồng dân cư có liên quan về nhiệm vụ và đồ án quy hoạch xây dựng (Khoản 1 Điều 17). Đồng thời quy định rõ nội dung, hình thức, thời gian lấy ý kiến về quy hoạch xây dựng và trình tự lập, phê duyệt quy hoạch xây dựng (Điều 18 và Điều 21).  

Để đảm bảo quy hoạch xây dựng đã phê duyệt được triển khai, tại Mục 7 “Tổ chức thực hiện quy hoạch xây dựng” về trách nhiệm và nội dung công bố quy hoạch xây dựng (Điều 43) và hình thức công bố công khai quy hoạch xây dựng (Điều 44), theo đó quy định Bộ Xây dựng và Ủy ban nhân dân các cấp có trách nhiệm công bố quy hoạch xây dựng theo phân cấp, nội dung công bố đối với từng loại quy hoạch xây dựng và thời gian công bố quy hoạch xây dựng. Quy định rõ trách nhiệm của người có trách nhiệm công bố quy hoạch xây dựng trong trường hợp công bố chậm, công bố sai với nội dung quy hoạch xây dựng đã được phê duyệt (Khoản 6 Điều 43). Đồng thời, quy định trách nhiệm của Ủy ban nhân dân các cấp trong việc tổ chức, thực hiện cắm mốc chỉ giới và bảo vệ mốc giới sau khi quy hoạch xây dựng đã được duyệt và công bố (Điều 47).

Để quản lý quy hoạch xây dựng theo nội dung đã được phê duyệt, tại Mục 8 “Quản lý xây dựng theo quy hoạch xây dựng” có 4 điều gồm những nội dung quy định về nguyên tắc quản lý xây dựng theo quy hoạch xây dựng (Điều 48), giới thiệu địa điểm xây dựng (Điều 49), giấy phép quy hoạch xây dựng (Điều 50) và tổ chức quản lý thực hiện quy hoạch xây dựng vùng (Điều 51).

  1. Dự án đầu tư xây dựng – đổi mới phương thức và nội dung quản lý (Chương III)
  2. Về nguyên tắc quản lý dự án đầu tư xây dựng

  Nguyên tắc cơ bản và cũng là nội dung cốt lõi của Luật Xây dựng là đổi mới phương thức và nội dung quản lý dự án nhằm quản lý chặt chẽ đối với dự án sử dụng vốn nhà nước, tạo thuận lợi cho tổ chức, cá nhân thuộc các thành phần kinh tế khác tham gia đầu tư xây dựng. Các quy định mới bao gồm:

Quy định nguyên tắc dự án sử dụng nguồn vốn khác nhau được quản lý theo các phương thức khác nhau (các Điều 8, 10, 52, 54, 60, 63, 66, 84, các Điều từ 127 đến 132); tăng cường sự kiểm soát của cơ quan quản lý nhà nước và của cộng đồng đối với dự án (các Điều 10, 60, 84 và 100); bổ sung quy định hình thức ban quản lý dự án chuyên ngành, ban quản lý dự án khu vực (Điều 66).

  1. Về thẩm định dự án đầu tư xây dựng

- Về thẩm định thiết kế cơ sở:

Thiết kế cơ sở là nội dung quan trọng của dự án đầu tư xây dựng, là bước thiết kế xây dựng đầu tiên và là nhân tố chính quyết định mức độ khả thi trong thực hiện và hiệu quả đầu tư của dự án. Thiết kế cơ sở quy định về vị trí, địa điểm, hướng tuyến, quy mô, giải pháp công nghệ, công suất, năng lực khai thác, hình thức kiến trúc, phương án kết cấu, vật liệu sử dụng và các kích thước, thông số kỹ thuật chủ yếu của công trình xây dựng làm căn cứ cho việc triển khai các bước thiết kế xây dựng tiếp theo. Thiết kế cơ sở đề ra các yêu cầu, nội dung và phạm vi công việc cần phải thực hiện khi đầu tư xây dựng, là căn cứ chủ yếu để xác định tổng mức đầu tư xây dựng và do đó có ảnh hưởng quyết định đến hiệu quả sử dụng vốn đầu tư.

Trong trường hợp thiết kế cơ sở đưa ra các lựa chọn về quy mô đầu tư, giải pháp công nghệ, loại vật liệu, quy chuẩn, tiêu chuẩn áp dụng... không phù hợp hoặc vượt quá yêu cầu khai thác, sử dụng công trình sẽ dẫn đến sự tùy tiện, gây lãng phí vốn đầu tư. Đó là chưa kể đến trường hợp thiết kế cơ sở có chất lượng thấp do công tác khảo sát sơ sài, lựa chọn địa điểm xây dựng không phù hợp, do năng lực của tư vấn thiết kế hạn chế… thì trong quá trình thực hiện dự án sẽ phải điều chỉnh, bổ sung nhiều lần, gây tốn kém, lãng phí về nguồn lực và thời gian, làm giảm hiệu quả dự án đầu tư xây dựng.

Với vai trò, tính chất quan trọng như vậy của thiết kế cơ sở, nên cần thiết phải có sự kiểm soát chặt chẽ của cơ quan quản lý nhà nước chuyên ngành, bởi vì nội dung kiểm soát thiết kế cơ sở liên quan đến nhiều yếu tố và giải pháp kinh tế - kỹ thuật chuyên ngành.

Xuất phát từ lý do này, Điều 60 của Luật đã quy định cơ quan chuyên môn về xây dựng có trách nhiệm thẩm định thiết kế cơ sở nhưng với phạm vi, mức độ khác nhau, tùy thuộc quy mô và tính chất của dự án xét theo nguồn vốn sử dụng, cụ thể: (1) đối với dự án sử dụng vốn ngân sách nhà nước, cơ quan chuyên môn về xây dựng tổ chức thẩm định các nội dung của Báo cáo nghiên cứu khả thi đầu tư xây dựng bao gồm cả thiết kế cơ sở; (2) đối với các dự án sử dụng vốn nhà nước ngoài ngân sách (chủ yếu do các doanh nghiệp nhà nước thực hiện), cơ quan chuyên môn về xây dựng theo phân cấp chủ trì thẩm định nội dung thiết kế cơ sở, cơ quan chuyên môn trực thuộc người quyết định đầu tư thẩm định nội dung thiết kế công nghệ và các nội dung khác của Báo cáo nghiên cứu khả thi đầu tư xây dựng; (3) đối với các dự án sử dụng nguồn vốn khác, cơ quan chuyên môn về xây dựng theo phân cấp chủ trì thẩm định nội dung thiết kế cơ sở của các dự án đầu tư xây dựng công trình công cộng, công trình có tác động lớn đến cảnh quan, môi trường và an toàn cộng đồng, người quyết định đầu tư tổ chức thẩm định các nội dung khác của Báo cáo nghiên cứu khả thi đầu tư xây dựng. Riêng nội dung phòng chống, cháy nổ trong thiết kế cơ sở của mọi dự án phải được sự chấp thuận của cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về phòng chống cháy nổ.

Quy định này là một bước cụ thể hóa và khẳng định cơ chế chịu trách nhiệm của các cơ quan quản lý nhà nước chuyên ngành trong quản lý các dự án đầu tư xây dựng, nhất là đối với các dự án có sử dụng vốn nhà nước. Ngoài ra, để tránh trường hợp có thể “quá tải” của cơ quan quản lý nhà nước chuyên ngành (nếu có), Luật cũng đã quy định cơ quan chuyên môn về xây dựng, người quyết định đầu tư được mời tổ chức, cá nhân có chuyên môn, kinh nghiệm tham gia thẩm định dự án hoặc yêu cầu chủ đầu tư thuê tổ chức, cá nhân tư vấn có đủ điều kiện năng lực theo quy định để thẩm tra dự án làm cơ sở cho việc thẩm định, phê duyệt dự án (Khoản 7 Điều 60).

- Luật đã quy định nguyên tắc công khai, minh bạch, có thời hạn trong hoạt động thẩm định dự án đầu tư xây dựng, thẩm định thiết kế cơ sở của các cơ quan chuyên môn về xây dựng: Thời hạn thẩm định dự án được quy định công khai, phù hợp với quy mô, tính chất của từng dự án, trường hợp đặc biệt cần phải gia hạn thì phải được người quyết định đầu tư quyết định. Đồng thời, đã bổ sung một số nội dung quy định rõ quyền và trách nhiệm của các chủ thể tham gia hoạt động đầu tư xây dựng, theo đó quy định về quyền và trách nhiệm của cơ quan chuyên môn về xây dựng (Khoản 8 Điều 60), của chủ đầu tư (Điều 71), của Ban quản lý dự án (Điều 72); quyền và nghĩa vụ của của tổ chức tư vấn lập dự án, quản lý dự án (Điều 73), của người quyết định đầu tư (Điều 74). 

  1. Về thẩm quyền quyết định đầu tư xây dựng

Để thống nhất giữa các luật, nội dung lập, thẩm định, phê duyệt dự án, thẩm quyền thẩm định dự án được thực hiện theo Luật Xây dựng. Riêng thẩm quyền quyết định đầu tư đối với dự án sử dụng vốn nhà nước được thực hiện theo Luật Đầu tư công.

  1. Về điều chỉnh dự án đầu tư xây dựng

 Ngoài các điều kiện theo quy định hiện hành, Luật Xây dựng đã bổ sung thêm trường hợp thứ 4 được xem xét điều chỉnh dự án, đó là khi chỉ số giá xây dựng do Bộ Xây dựng, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh công bố trong thời gian thực hiện dự án lớn hơn chỉ số giá xây dựng được sử dụng để tính dự phòng trượt giá trong tổng mức đầu tư dự án được duyệt. Việc điều chỉnh dự án sử dụng vốn nhà nước do người quyết định đầu tư quyết định.

  1. Về hình thức quản lý dự án đầu tư xây dựng

Luật đã đưa ra 5 hình thức quản lý dự án, đó là hính thức thành lập ban quản lý dự án chuyên ngành, ban quản lý dự án khu vực, ban quản lý dự án một dự án, thuê tư vấn quản lý dự án và hình thức sử dụng bộ máy chuyên môn hiện có để quản lý thực hiện dự án.

Khi áp dụng hình thức ban quản lý dự án chuyên ngành, ban quản lý dự án khu vực, sẽ cho phép giảm bớt số lượng các ban quản lý dự án và nhân lực làm nhiệm vụ quản lý dự án, qua đó tiết kiệm kinh phí quản lý dự án và có điều kiện để nâng cao trình độ, năng lực và tính chuyên nghiệp trong công tác quản lý dự án. Trường hợp ban quản lý dự án được giao làm chủ đầu tư thì phải chịu mọi trách nhiệm với tư cách là chủ đầu tư dự án nên không thể lạm quyền.

Việc quy định hình thức ban quản lý dự án chuyên ngành, ban quản lý dự án khu vực trong Luật là cần thiết và phù hợp, đặc biệt là với các dự án sử dụng vốn ngân sách được thực hiện trên cùng một địa bàn khu vực, các dự án của doanh nghiệp có quy mô lớn, được xây dựng theo tuyến công trình hoặc trên nhiều khu vực khác nhau.      

  1. Giấy phép xây dựng – công khai, minh bạch và đơn gian thủ tục (Chương V)

                Điểm mới của Chương này là quy định các trường hợp được miễn giấy phép xây dựng, cụ thể: công trình xây dựng thuộc dự án khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao có quy hoạch chi tiết 1/500 đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt và được thẩm định thiết kế xây dựng theo quy định của Luật này; nhà ở thuộc dự án phát triển đô thị, dự án phát triển nhà ở có quy mô dưới 7 tầng và tổng diện tích sàn dưới 500 m2 có quy hoạch chi tiết 1/500 đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt và được chủ đầu tư các dự án này trực tiếp tổ chức thi công xây dựng và nhà ở riêng lẻ tại nông thôn.

Luật Xây dựng lần này đã quy định rõ trình tự, thủ tục, trách nhiệm của các cơ quan liên quan trong công tác cấp giấy phép xây dựng, theo hướng công khai, minh bạch, đơn giản thủ tục hành chính tạo điều kiện cho tổ chức, cá nhân xin cấp giấy phép xây dựng; đồng thời quy định trách nhiệm của cơ quan cấp giấy phép xây dựng và các cơ quan có liên quan. Cụ thể, đã chuyển hầu hết các nội dung chủ yếu của Nghị định về cấp giấy phép xây dựng bổ sung vào Luật, bao gồm quy định chi tiết về quy trình cấp giấy phép xây dựng (Điều 99); thẩm quyền cấp, điều chỉnh, gia hạn giấy phép xây dựng (Điều 100); trách nhiệm của cơ quan cấp phép xây dựng, các cơ quan liên quan, trách nhiệm của tổ chức tư vấn, thi công xây dựng trong hoạt động cấp phép xây dựng và quản lý xây dựng theo giấy phép xây dựng (Điều 102).

  1. Xây dựng công trình – tăng cường công tác kiểm tra ngiệm thu (Chương VI)

Yêu cầu về nghiệm thu, kiểm tra công tác nghiệm thu, bàn giao công trình phụ thuộc vào tính chất công trình theo nguồn vốn sử dụng, quy mô công trình, cấp công trình, loại công trình theo tính năng sử dụng. Vì vậy, Luật chỉ đưa vào các quy định cơ bản, áp dụng chung cho hầu hết các loại công trình. Các quy định cụ thể về áp dụng với từng loại công trình; chức năng, nhiệm vụ, thành phần Hội đồng nghiệm thu sẽ được quy định cụ thể tại Nghị định về quản lý chất lượng công trình xây dựng. Đồng thời đã bổ sung quy định các loại công trình yêu cầu phải có kiểm tra công tác nghiệm thu của cơ quan quản lý nhà nước về xây dựng trước khi đưa vào khai thác sử dụng, trong đó có các loại công trình phải do Hội đồng nghiệm thu nhà nước thực hiện (Khoản 5 Điều 119) làm cơ sở cho Chính phủ ban hành Nghị định quy định và hướng dẫn cụ thể hơn về công tác nghiệm thu công trình xây dựng.

- Về bảo hiểm trong hoạt động xây dựng: Để tránh trùng lặp, đảm bảo nhất quán các quy định về bảo hiểm trong hoạt động đầu tư xây dựng và phù hợp với quy định của pháp luật về bảo hiểm,

  1. Quy định chặt chẽ hơn về chi phí đầu tư xây dựng và hợp đồng xây dựng (Chương VII)
  2. Về chi phí đầu tư xây dựng

Luật đã quy định chặt chẽ hơn các điều kiện điều chỉnh dự án, điều chỉnh tổng mức đầu tư, dự toán phù hợp với dự án sử dụng các nguồn vốn khác nhau. Cụ thể, bổ sung các Khoản 2, 3, 4, 5 Điều 129 để quy định rõ về nội dung tổng mức đầu tư; nguyên tắc xác định tổng mức đầu tư, điều chỉnh tổng mức đầu tư đối với dự án sử dụng vốn nhà nước và vốn khác.

  1. Về hợp đồng xây dựng

Hợp đồng xây dựng là công cụ rất quan trọng, quyết định đến việc quản lý tổng mức đầu tư và kết quả thực hiện dự án đầu tư xây dựng; là công cụ pháp lý đảm bảo sự công bằng, bình đẳng giữa các bên tham gia hợp đồng. Hợp đồng xây dựng có những đặc thù riêng, đó là: liên quan đến nhiều nội dung của quá trình quản lý xây dựng (công nghệ, thiết kế, tiêu chuẩn áp dụng, điều kiện thi công, biện pháp thi công, tiến độ thực hiện, chi phí xây dựng và các yếu tố thương mại, pháp lý). Vì vậy, phần hợp đồng xây dựng trong Luật Xây dựng (sửa đổi) đã đưa ra các quy định cụ thể mang tính chất đặc thù, áp dụng đối với các dự án đầu tư xây dựng sử dụng mọi loại nguồn vốn và phù hợp với thông lệ quốc tế, nhằm hạn chế các kẽ hở của pháp luật có thể làm phương hại đến lợi ích của các chủ thể tham gia hợp đồng, đảm bảo sự bình đẳng giữa các bên, tránh phát sinh các tranh chấp phức tạp.

Việc thanh toán, quyết toán hợp đồng xây dựng được thực hiện trên cơ sở điều kiện cụ thể của từng hợp đồng; còn việc thanh toán, quyết toán vốn đầu tư các dự án sử dụng vốn ngân sách nhà nước là trách nhiệm của chủ đầu tư (cơ quan thụ hưởng ngân sách) với cơ quan quản lý cấp phát vốn (Kho bạc nhà nước, Ngân hàng thương mại,...).

  1. Phân hạng điều kiện năng lực hoạt động xây dựng (Chương VIII)

Một quy định mới về điều kiện năng lực hoạt động xây dựng là các tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động xây dựng được phân thành hạng 1, 2, 3 để phân định những tổ chức, cá nhân có năng lực cao với tổ chức, cá nhân có năng lực thấp. Phạm vi hoạt động xây dựng phù hợp với năng lực thực tế do cơ quan quản lý nhà nước về xây dựng đánh giá, sát hạch. Bộ Xây dựng cấp chứng chỉ hành nghề cho cá nhân hạng 1, chứng chỉ năng lực cho tổ chức hạng 1; Sở Xây dựng cấp các hạng còn lại. Tiếp thu ý kiến thẩm tra, Ban soạn thảo đã bổ sung vào Dự thảo Luật một điều (Điều 147) quy định về điều kiện năng lực đối với tổ chức tư vấn quản lý dự án và ban quản lý dự án đầu tư xây dựng

  1. Một số vấn đề khác

Ngoài những nội dung chủ yếu nêu trên, Luật Xây dựng đã bổ sung quy định về giám sát cộng đồng đối với hoạt động đầu tư xây dựng (Khoản 2 Điều 9); quy định về từng bước chuyển giao một số dịch vụ công cho các tổ chức xã hội nghề nghiệp (Khoản 3 Điều 12); quy định về hợp tác quốc tế trong hoạt động đầu tư xây dựng (Điều 14); quy định yêu cầu đối với công trường xây dựng (Khoản 2, 3 Điều 105); yêu cầu đối với thi công xây dựng công trình (Điều 106); quy định về bàn giao công trình xây dựng (Khoản 2, 3, 4 Điều 120); đồng thời, đã rà soát, điều chỉnh lại các thuật ngữ cho phù hợp.

Xem chi tiết tại: